Chuyển đến nội dung chính

Sức sống phong trào hát chèo truyền thống ở Nông Cống

(Baothanhhoa.vn) - Hát chèo là một trong những môn nghệ thuật truyền thống có tuổi đời nghìn năm, gắn liền với quá trình phát triển của dân tộc ta. Những chiếu chèo luôn là món ăn tinh thần không thể thiếu được trong văn hóa của người Việt, nhất là khu vực phía Bắc. Tại Thanh Hóa, nghệ thuật hát chèo cũng xuất hiện và tồn tại từ rất lâu ở nhiều địa phương trong tỉnh như Quảng Xương, Đông Sơn, Hoằng Hóa, Hà Trung... Tuy vậy, khi nói đến hát chèo cổ thì chắc rằng Nông Cống mới là nơi có lịch sử lâu đời nhất.

Thi hát chèo truyền thống trên sông trong khuôn khổ lễ hội đền Mưng (xã Trung Thành).
Nghệ thuật hát chèo cổ (hát chèo thờ) gắn với lễ hội đền Mưng, xã Trung Thành có lịch sử tồn tại đã gần 1.400 năm. Đây cũng là điểm nhấn đặc sắc nhất của lễ hội này, đã được gìn giữ và duy trì cho đến nay. Theo tìm hiểu từ các nghệ nhân ở xã Trung Thành: Chèo thờ làng Mưng bắt nguồn từ một câu chuyện cảm động. Làng vốn nằm ở hữu ngạn sông Lãng Giang (xã Trung Thành, Nông Cống). Đền Mưng thờ Thánh Lưỡng. Theo truyền thuyết, Thánh Lưỡng là em của Tam Giang thần nữ tức Vua Bà. Thánh Lưỡng hy sinh anh dũng trong chiến trận. Bà chị thương em nhảy xuống sông Lãng tự vẫn, thi thể trôi đến ngã ba nơi hợp lưu giữa sông Lãng, sông Hoàng và sông Yên thì được dân làng đưa lên an táng, lập đền thờ Vua Bà (hiện thuộc xã Tế Tân), cúng bái từ mùng 5 đến mùng 8-3 (âm lịch). Ngày mùng 8 có lệ “em đến thăm chị”: Thánh Lưỡng được rước xuống đền Vua Bà. Lệ rước bằng thuyền, dọc dòng Lãng Giang dài khoảng 10 km, vì vậy mà có hội chèo thờ tháng Ba (hay còn gọi là trò hát thờ).
Thông lệ hàng năm, tham gia hội chèo thờ có các đội chèo của 8 làng thuộc hai xã Trung Thành và Trung Chính, sống quanh sông Lãng (thực địa sẽ diễn ra “chèo nước” - tức hát chèo dưới nước). Các đội vừa chèo thuyền, vừa thi thố tài năng hát chèo trên sông với những làn điệu chèo cổ. Trong khi đó, để tham gia chèo cạn, các đội phải đặt một con thuyền không đáy được trang trí khá đẹp. Trong khoang thuyền là 16 nữ quan, áo quần mớ ba mớ bảy, khăn, dây xà tích của nữ chèo được là lượt cẩn thận, cứ hai người cầm một mái chèo đứng đối mặt nhau, chân nâng nhè nhẹ, bước lên rồi lại lùi xuống nhịp nhàng, khoan thai. Dù là chèo nước hay chèo cạn, theo yêu cầu của “đạo diễn” (là các nghệ nhân cao tuổi từng tham gia các hội chèo Mưng xưa kia), các nữ quan phải làm sao cho khuôn mặt toát lên vẻ thanh thoát, nhẹ nhàng, nụ cười cắn chỉ, mắt sáng long lanh, tay các nữ quan đưa ra nhịp nhàng rồi thì lại vuốt lại mái chèo như kiểu người dệt vải chuốt sợi. Các thuyền nối đuôi nhau chèo lượn, dòng sông sáng rực ánh đèn, vẳng tiếng hò khoan của nữ chèo, có trống cơm đệm nhạc. Cứ thế, những câu hát “vận từ ca dao” của các nam thanh nữ tú trên bờ dưới thuyền “giao duyên” với nhau.
Năm nào cũng vậy, cứ đến dịp lễ hội người dân trong vùng lại tạm gác mọi công việc để đến tham dự. Khi các thuyền chuẩn bị xuất phát cũng là lúc người dân hai bên bờ hò dô, cổ vũ. Đoàn thuyền theo dòng Lãng Giang uốn lượn xuôi xuống đền Vua Bà, đến mỗi làng trên khúc sông thuyền xuôi qua, theo thói quen các nữ chèo lại cất lên những câu hát quen thuộc trong 28 làn điệu chèo cổ làng Mưng. Hát chèo còn được mở rộng, phát triển ở nhiều địa phương khác trong huyện. Tháng 12-2019, Lễ hội đền Mưng đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Theo báo cáo của huyện, hiện nay, tại các thôn của xã Trung Thành và một số xã khác như Trường Sơn, Vạn Thắng, Tế Thắng, Công Liêm... đều có các câu lạc bộ (CLB), có các đội hát chèo duy trì hoạt động hàng năm, tham gia tích cực vào các hội thi, hội diễn, giao lưu cấp tỉnh, cấp huyện. Các xã hàng năm cũng đều tổ chức được các hội diễn, thi tài giữa các đội hát chèo. Từ đó đã tạo ra sự sôi động cho phong trào văn nghệ của địa phương. Tại các kỳ hội thi văn nghệ quần chúng cấp huyện (2 năm tổ chức 1 lần) có ít nhất từ 4 đến 6 đội hát chèo tham gia. Từ những hạt nhân là các nghệ nhân hát chèo, huyện Nông Cống đã thường xuyên cử các đội hát chèo tham gia các liên hoan, hội diễn cấp tỉnh. Gần đây nhất, đội hát chèo của huyện với nòng cốt là các nghệ nhân hát chèo đền Mưng, đại diện cho huyện Nông Cống đã giành giải A tại Liên hoan văn hóa các dân tộc toàn tỉnh năm 2018.
Ông Trần Văn Phượng, Phó trưởng Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Nông Cống, cho biết: Trong thời gian tới, huyện Nông Cống xác định rõ, hát chèo là một trong những loại hình nghệ thuật được quan tâm, đầu tư có trọng điểm nhằm đẩy mạnh phong trào văn hóa – văn nghệ của địa phương. Bên cạnh việc khuyến khích tạo điều kiện cho các đội, CLB hát chèo hoạt động thường xuyên, hằng năm huyện cũng tổ chức các hội thi, hội diễn văn nghệ quần chúng nhưng có phần trao giải riêng cho hát chèo. Bên cạnh đó, huyện cũng có cơ chế hỗ trợ thêm kinh phí cho các đội, CLB hát chèo tham gia các hội thi, hội diễn khu vực, cấp tỉnh và kể cả các ngành. Ở góc độ bảo tồn, hiện nay huyện cũng đang lập danh sách các nghệ nhân hát chèo để đề nghị công nhận là nghệ nhân dân gian... Đây là nỗ lực của huyện trong công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân.
Bài và ảnh: Mạnh Cường

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Nghệ nhân tài hoa của nghề đúc đồng xứ Huế

TBV - Sinh ra trong một gia đình có truyền thống nhiều đời đúc đồng ở TP. Huế (Thừa Thiên - Huế), năm 1954 vừa tròn 16 tuổi, Nguyễn Văn Sính phải nghỉ học vì hoàn cảnh gia đình. Từ đó, anh theo bố làm nghề đúc đồng. Bố ông là cụ Nguyễn Đình Toại, một tay đúc đồng nổi tiếng của Huế thời bấy giờ. Cụ từng đúc bộ lư “Tứ Tuần Đại Khánh”cho vua Khải Định, đúc 6 vạn quan tiền cho vua Bảo Đại, được vua Bảo Đại tặng chức tước “Cửu phẩm”. Do ảnh hưởng bởi uy tín nghề nghiệp của bố, lại năng động, ham tìm tòi học hỏi nên ông Sính sớm thành thạo công việc. Năm 1963 ông được bố tin tưởng giao làm chủ cơ sở đúc đồng nổi tiếng của Huế, có tên “Nam công thương cuộc” ở đường Bùi Thị Xuân. Với bản tính điềm đạm, thích học hỏi, biết lắng nghe ý kiến của mọi người nên tên tuổi của ông sớm được nhiều người biết đến.  Năm 1963 ông được Giáo hội Phật giáo tỉnh Thừa Thiên - Huế trợ duyên đúc “Bánh xe pháp luân” bằng đồng không rỉ, đặt ở đài Thánh tử đạo (cạnh cầu Trường Tiền - Huế ). Năm 1973 ở Ni...

Cầu gỗ dài nhất Việt Nam hồi sinh sau lũ: 'Người nhái' lặn sông đóng cọc dựng cầu

  Sau khi bị lũ cuốn trôi, cây cầu gỗ dài nhất Việt Nam ở Đắk Lắk đang dần thành hình. 'Người nhái' lặn sông, đóng cọc gỗ dựng cầu, quyết tâm hoàn thành trước Tết Nguyên đán 2026. Cây  cầu gỗ dài nhất Việt Nam  ở  Đắk Lắk  do người dân góp tiền, góp công xây dựng nhằm rút ngắn thời gian di chuyển từ phường Xuân Đài sang xã Tuy An Đông. Thay vì phải đi vòng hơn 10 km, quãng đường giữa 2 địa phương này chỉ còn khoảng 1 km nhờ cây cầu gỗ Ông Cọp này (thuộc thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên cũ). Cầu gỗ dài nhất Việt Nam đang được người dân dựng lại sau mưa lũ ẢNH: HỮU TÚ Từ nhiều năm qua, cây cầu gỗ Ông Cọp được xem là tuyến giao thông huyết mạch giúp người dân hai bên bờ sông qua lại, giao thương và phục vụ đời sống hằng ngày. Tuy nhiên, trong đợt bão số 13 (bão Kalmaegi), cây cầu bị nước lũ cuốn trôi, chỉ còn trơ lại vài cọc gỗ. Khi di chuyển dọc quốc lộ 1 nhìn về hướng biển,  cây cầu gỗ dài nhất Việt Nam  đang dần nên hình khi người dân địa phương cật lực g...

Phục dựng lại cổng làng Mông Phụ tại bảo tàng nghìn tỷ

  Bảo tàng Hà Nội đang phục dựng lại cổng làng Mông Phụ tại không gian sân vườn.  Ca sĩ Duy Mạnh bị Cục NTBD giám sát sau phát ngôn nhạy cảm Diễm My: Nhan Phúc Vinh sống khép kín không giống như Thanh Sơn Thanh Sơn, Quỳnh Kool lọt đề cử VTV ấn tượng Cổng làng Mông Phụ (Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội) được được GS. KTS Ejima Akiyoshi phục dựng dựa trên cơ sở các số liệu đo đạc rất công phu. Mô hình tại Bảo tàng Hà Nội được làm bằng loại gỗ quý bách hội của Nhật Bản và gỗ ramin (Đông Nam Á) làm cột tròn với kích thước rộng 90, sâu 60, cao 63, bằng tỷ lệ 1/10 so với kích thước thật. Đặc biệt các cấu kiện của mô hình rất chi tiết và có thể tháo ra, lắp vào phục vụ tập huấn tu bổ, giảng dạy.         Cổng làng Mông Phụ thuộc xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội. Trước đó, một phiên bản khác của cổng làng Mông Phụ cũng đã được Bảo tàng Hà Nội phục dựng lại năm 2014 tại không gian sân vườn. Tháng 3/2017, GS. KTS Ejima Akiyoshi đã trao tặng mô hình cổng làng Mông Phụ nà...