Chuyển đến nội dung chính

Chiếc mâm tre đặc biệt của người Bru - Vân Kiều

Biên phòng - Đồng bào dân tộc Bru-Vân Kiều giữa đại ngàn Trường Sơn vẫn còn gìn giữ nghề đan lát với các sản phẩm đặc trưng như mâm tre, gùi, rổ, rá, mẹt, típ đựng cơm đi rừng… Những sản phẩm đan lát thủ công không chỉ phục vụ nhu cầu sinh hoạt của đồng bào mà còn thể hiện mỹ tục, văn hóa truyền thống của dân tộc Bru-Vân Kiều. Trong đó, chiếc mâm tre (pa - điền - xang) được tạo tác kỳ công, bền chắc, đòi hỏi người chế tác phải có đôi bàn tay khéo léo. Đây là nếp xưa của người Bru - Vân Kiều được những nghệ nhân có tâm với văn hóa truyền thống gìn giữ trong nhịp sống hiện đại.
Nghệ nhân Lê Hồng Na chế tác mâm tre truyền thống. Ảnh: Thanh Thuận
Đối với người Bru - Vân Kiều nơi đại ngàn Trường Sơn, chiếc mâm tre là vật dụng gắn bó với đời sống của người dân từ bao nhiêu năm nay, chứng kiến những bước thăng trầm trong cuộc sống mỗi gia đình. Chiếc mâm tre được sử dụng để bày thức ăn, đựng cơm trong bữa ăn, bày mâm cỗ trong các dịp lễ hội, đặc biệt hơn hết là bày sính lễ trong ngày cưới của người Bru - Vân Kiều... 
Trong ngày cưới, lễ vật của nhà trai mang đến nhà gái nhất thiết phải có chiếc mâm tre truyền thống, phía trên xếp chiếc nồi đồng, thanh kiếm và thỏi bạc nén. Sau nghi thức trao sính lễ của nhà trai cho nhà gái thì đôi bạn trẻ mới được mọi người công nhận chính thức thành vợ chồng. Ngày xưa, những chàng trai Bru - Vân Kiều biết đan hoàn chỉnh một chiếc mâm tre là cách thể hiện sự tài hoa, khéo tay của mình trước các thiếu nữ trong bản.
Để đan được chiếc mâm tre của người Bru-Vân Kiều đòi hỏi sự công phu, tỉ mỉ, trải qua nhiều công đoạn và người chế tác phải là người đan lát giỏi. Người Bru - Vân Kiều thường chọn những cây tre có độ tuổi từ 3 năm trở lên. Tre già được chặt về ngâm nước một thời gian cho săn chắc, chống mối mọt, sau đó vớt lên, để khô rồi đem chế tác nan đan. Cây mây cũng phải thẳng, tròn đều, không sâu bệnh, tránh lấy cây non hoặc già quá. Bởi thế, để khai thác đủ mây tre đan một chiếc mâm, có khi người Bru - Vân Kiều phải mất cả tuần đi rừng. 
Nghệ nhân Lê Hồng Na (62 tuổi) – người có thâm niên mấy chục năm trong nghề ở xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình cho biết: "Để làm nên những chiếc mâm đẹp mắt, quan trọng nhất là kỹ thuật vót tre, vót mây phải đẹp, mềm mại, ngâm tẩm từng loại phải tốt thì khi đan, sản phẩm mới bóng và sắc sảo. Điều quan trọng nữa là tình yêu, niềm đam mê với nghề đan lát gửi gắm vào từng nan tre, sợi mây...". Mỗi chiếc mâm tre của người Bru - Vân Kiều gồm 2 phần thân và đế tách biệt. Tùy theo dụng ý sử dụng của đồng bào để làm những chiếc mâm to hay nhỏ cũng như bố trí mức độ nông, sâu của bề mặt chiếc mâm cho phù hợp.
Để đan mâm, nghệ nhân phải chuẩn bị 2 loại nan xương và nan thường. Nan xương là bộ khung của tấm đan nên phải to bản và cứng cáp. Nan thường chỉ cần vót đều đặn, dẻo dai. Vì chiếc mâm có 2 phần thân và đế tách biệt nên khi đan, người nghệ nhân phải thật khéo léo bẻ góc, uốn cong nan xương cũng như tạo hoa văn cho từng phần. 
Kỹ thuật đan lát của người Bru - Vân Kiều không khác mấy so với kiểu đan của người Kinh, nhưng về hoa văn thì có nhiều điểm khác biệt do phối hợp các cách đan và có sự nhấn nhá khác nhau. Một cụm hoa văn được trình bày, trang trí hợp lý, vừa có ý nghĩa thẩm mỹ, vừa mang dấu ấn tín ngưỡng nguyên sơ trong nghề đan lát của người Bru - Vân Kiều. Đó là tục thờ thần linh và mong muốn các vị thần giúp cho con người yên ổn làm ăn, sinh sống, cho vạn vật sinh sôi, nảy nở, mùa màng tươi tốt...
Phần thân mâm được đan lóng đôi, khi đan xong sẽ thấy nan dọc, nan kép dính chéo vào nhau một cách kín kẽ. Đặc biệt, phần đế mâm sử dụng kỹ thuật đan lồng bao gồm các nan ngang, nan chéo cắm chồng lên nhau tạo thành những hoa văn hình thoi đều tăm tắp. Khi phần đan đã xong, người nghệ nhân sẽ khéo léo luồn những nan tre được chừa dài ra có chủ đích ở phần đỉnh đáy vào đuôi của thân mâm rồi dùng dây mây nức lại với nhau thành một thể thống nhất. Nghệ nhân cũng dùng mây xỏ vào vành miệng mâm và đế mâm vừa có tác dụng nẹp chặt, vừa mang lại thẩm mỹ cho chiếc mâm. 
Khi chiếc mâm hoàn thành, người nghệ nhân sẽ để những chiếc mâm lên gác bếp. Dưới tác động của khói bếp, những chiếc mâm sẽ ngả sang màu nâu đậm càng làm cho sản phẩm có màu đẹp hơn, đồng thời nâng cao khả năng chống mối mọt của mâm tre.
Theo dòng chảy của cuộc sống hiện đại, các sản phẩm công nghiệp tiện lợi đã len lỏi về các bản làng, thay thế sản phẩm thủ công truyền thống. Các sản phẩm đan lát truyền thống không còn được nhiều người dân lựa chọn sử dụng đại trà như trước. Cái mâm nhôm tiện dụng đã “chiếm lĩnh” chỗ của mâm tre. Nghề đan lát truyền thống của người Bru - Vân Kiều nơi đại ngàn Trường Sơn dần mai một, chỉ còn tồn tại ở một số gia đình. Người biết đan mâm tre chỉ còn số ít nghệ nhân lớn tuổi. 
Trò chuyện với  chúng tôi, nghệ nhân Lê Hồng Na cho biết, ông làm nghề đan lát này chỉ vì đam mê, muốn duy trì nghề đan lát truyền thống của người Bru - Vân Kiều, chứ nghề này không đủ sống. Sản phẩm làm rất kỳ công nên mỗi cái mâm ông phải mất mấy ngày mới làm xong. “Cứ 6 tháng mình đi bán một lần ở Quảng Trị hoặc ở miền Tây huyện Lệ Thủy, có khi sang cả Lào. Mỗi chuyến được không quá 5 triệu đồng, chia cho 6 tháng lao động thì tính ra thu nhập cũng rất ít” - Già Na tâm sự.
Trước thực tế ngày càng mai một nghề đan lát truyền thống của người Bru - Vân Kiều, thiết nghĩ, cần có chính sách vận động, hỗ trợ đồng bào gìn giữ nghề truyền thống. Chỉ khi các địa phương duy trì được các lớp truyền dạy từ các nghệ nhân cho thế hệ trẻ, nghề đan lát truyền thống của người Bru - Vân Kiều mới được bảo tồn, gìn giữ trong dòng chảy của nhịp sống hiện đại.
Thanh Thuận

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Nghệ nhân tài hoa của nghề đúc đồng xứ Huế

TBV - Sinh ra trong một gia đình có truyền thống nhiều đời đúc đồng ở TP. Huế (Thừa Thiên - Huế), năm 1954 vừa tròn 16 tuổi, Nguyễn Văn Sính phải nghỉ học vì hoàn cảnh gia đình. Từ đó, anh theo bố làm nghề đúc đồng. Bố ông là cụ Nguyễn Đình Toại, một tay đúc đồng nổi tiếng của Huế thời bấy giờ. Cụ từng đúc bộ lư “Tứ Tuần Đại Khánh”cho vua Khải Định, đúc 6 vạn quan tiền cho vua Bảo Đại, được vua Bảo Đại tặng chức tước “Cửu phẩm”. Do ảnh hưởng bởi uy tín nghề nghiệp của bố, lại năng động, ham tìm tòi học hỏi nên ông Sính sớm thành thạo công việc. Năm 1963 ông được bố tin tưởng giao làm chủ cơ sở đúc đồng nổi tiếng của Huế, có tên “Nam công thương cuộc” ở đường Bùi Thị Xuân. Với bản tính điềm đạm, thích học hỏi, biết lắng nghe ý kiến của mọi người nên tên tuổi của ông sớm được nhiều người biết đến.  Năm 1963 ông được Giáo hội Phật giáo tỉnh Thừa Thiên - Huế trợ duyên đúc “Bánh xe pháp luân” bằng đồng không rỉ, đặt ở đài Thánh tử đạo (cạnh cầu Trường Tiền - Huế ). Năm 1973 ở Ni...

Cầu gỗ dài nhất Việt Nam hồi sinh sau lũ: 'Người nhái' lặn sông đóng cọc dựng cầu

  Sau khi bị lũ cuốn trôi, cây cầu gỗ dài nhất Việt Nam ở Đắk Lắk đang dần thành hình. 'Người nhái' lặn sông, đóng cọc gỗ dựng cầu, quyết tâm hoàn thành trước Tết Nguyên đán 2026. Cây  cầu gỗ dài nhất Việt Nam  ở  Đắk Lắk  do người dân góp tiền, góp công xây dựng nhằm rút ngắn thời gian di chuyển từ phường Xuân Đài sang xã Tuy An Đông. Thay vì phải đi vòng hơn 10 km, quãng đường giữa 2 địa phương này chỉ còn khoảng 1 km nhờ cây cầu gỗ Ông Cọp này (thuộc thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên cũ). Cầu gỗ dài nhất Việt Nam đang được người dân dựng lại sau mưa lũ ẢNH: HỮU TÚ Từ nhiều năm qua, cây cầu gỗ Ông Cọp được xem là tuyến giao thông huyết mạch giúp người dân hai bên bờ sông qua lại, giao thương và phục vụ đời sống hằng ngày. Tuy nhiên, trong đợt bão số 13 (bão Kalmaegi), cây cầu bị nước lũ cuốn trôi, chỉ còn trơ lại vài cọc gỗ. Khi di chuyển dọc quốc lộ 1 nhìn về hướng biển,  cây cầu gỗ dài nhất Việt Nam  đang dần nên hình khi người dân địa phương cật lực g...

Phục dựng lại cổng làng Mông Phụ tại bảo tàng nghìn tỷ

  Bảo tàng Hà Nội đang phục dựng lại cổng làng Mông Phụ tại không gian sân vườn.  Ca sĩ Duy Mạnh bị Cục NTBD giám sát sau phát ngôn nhạy cảm Diễm My: Nhan Phúc Vinh sống khép kín không giống như Thanh Sơn Thanh Sơn, Quỳnh Kool lọt đề cử VTV ấn tượng Cổng làng Mông Phụ (Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội) được được GS. KTS Ejima Akiyoshi phục dựng dựa trên cơ sở các số liệu đo đạc rất công phu. Mô hình tại Bảo tàng Hà Nội được làm bằng loại gỗ quý bách hội của Nhật Bản và gỗ ramin (Đông Nam Á) làm cột tròn với kích thước rộng 90, sâu 60, cao 63, bằng tỷ lệ 1/10 so với kích thước thật. Đặc biệt các cấu kiện của mô hình rất chi tiết và có thể tháo ra, lắp vào phục vụ tập huấn tu bổ, giảng dạy.         Cổng làng Mông Phụ thuộc xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội. Trước đó, một phiên bản khác của cổng làng Mông Phụ cũng đã được Bảo tàng Hà Nội phục dựng lại năm 2014 tại không gian sân vườn. Tháng 3/2017, GS. KTS Ejima Akiyoshi đã trao tặng mô hình cổng làng Mông Phụ nà...