Chuyển đến nội dung chính

Sử thi Ê Đê hiện nay- nghệ nhân và việc trao truyền nghệ thuật diễn xướng

Sử thi là đề tài quen thuộc được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Khi nói đến sử thi, phải kể đến những quốc gia có những bộ sử thi kinh điển đã được phổ biến toàn thế giới như Hy Lạp với Iliat, Ôđixê; Ấn Độ với Mahabharata, Ramayana, ngoài ra nhiều quốc gia trên thế giới cũng rất quan tâm đến sử thi của đất nước họ như Mông Cổ, Thái Lan, đặc biệt họ coi đó như điểm tựa quan trọng cho truyền thống văn hóa của một dân tộc. Với Việt Nam, sử thi Ê Đê đã được các nhà nghiên cứu đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên nghiên cứu sử thi Ê Đê dưới những góc nhìn nghệ thuật diễn xướng là chủ đề mới chưa được nghiên cứu một cách bài bản trước đây.
Trước thực tế đó, năm 2018, Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản cuốn: “Sử thi Ê Đê hiện nay: Nghệ nhân và việc trao truyền nghệ thuật diễn xướng” do Kiều Trung Sơn làm chủ biên. Mục đích của cuốn sách là nhằm xác định được cơ sở khoa học cho việc bảo tồn nghệ thuật diễn xướng sử thi, do vậy nhóm nghiên cứu cần khảo sát tổng quan về sự hiện diện của sử thi Tây Nguyên hiện nay, từ hệ thống các xuất bản phẩm sử thi cho đến sự tồn tại trên thực tế ở cộng đồng người Ê Đê nói riêng và các dân tộc Tây Nguyên nói chung. Từ đó tiếp tục làm rõ nghệ thuật diễn xướng sử thi Ê Đê với các đặc trưng cơ bản của nó cũng như vai trò của nghệ nhân trong quá trình trao truyền. Nội dung chính của cuốn sách gồm 6 chương và phụ lục bao gồm những tư liệu quý do nhóm nghiên cứu tập hợp được trong quá trình thu thập thông tin và một số hình ảnh điền dã của nhóm.
Chương 1. Một số vấn đề lý luận và tổng quan tư liệu sử thi Tây Nguyên
Để hiểu sâu về vấn đề thuật ngữ và thể loại sử thi Tây Nguyên, nhóm nghiên cứu đã dày công sưu tầm những tư liệu nghiên cứu của một số học giả trong và ngoài nước về sử thi Tây Nguyên như: Phan Đăng Nhật, Nguyễn Xuân Kính, Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Thị Hòa, Tô Đông Hải, Đỗ Hồng Kỳ, linh mục Paul Guilleminet, công sứ Léopold Sabatier. Về thể loại, có những góc nhìn và cho rằng sử thi là một thể loại văn học dân gian, nhưng cũng có nhà nghiên cứu nhận định sử thi là một hiện tượng văn hóa và hiện tượng văn hóa đặc biệt. Và cũng giống như thuật ngữ, việc phân loại sử thi cũng chưa có tiếng nói thống nhất. Nhóm nghiên cứu khẳng định đề tài về sử thi Ê Đê luôn hấp dẫn các nhà nghiên cứu bởi nó như một kho tàng văn hóa còn tiềm ẩn nhiều câu hỏi cần được giải đáp về nhiều lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên qua nội dung chương này, độc giả đã phần nào có bức tranh tổng thể về sử thi Tây Nguyên nói chung và sử thi Ê Đê nói riêng, thấy được sự phong phú, đa dạng hàm chứa nhiều giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật.
Chương 2. Tiếp cận thử thi Tây Nguyên
Bằng việc điểm qua các hướng tiếp cận phổ biến trước đây như: tiếp cận nội dung; tiếp cận nghệ nhân; tiếp cận môi trường, công chúng; tiếp cận bảo tồn, phát huy; tiếp cận vùng miền, người đọc có thể thấy kho tàng sử thi Tây Nguyên đồ sộ và các hướng tiếp cận với nó cũng khá đa dạng. Điểm nổi bật của của công trình này chính là hướng tiếp cận diễn xướng mà nhóm tác giả đã áp dụng. Đây là hướng tiếp cận mới bởi chưa từng có công trình nghiên cứu sử thi nào thực hiện cách tiếp cận này. Việc tiếp cận diễn xướng theo nhóm tác giả là quan tâm nhiều đến cách thức người nghệ nhân truyền tải câu chuyện dài từ trong đầu ông ta tới dân làng, người nghe; quan tâm đến mối quan hệ giữa lời kể/nhân vật, tình tiết câu chuyện kể với giọng kể của người hát kể; tìm lý do khiến người ta bị hấp dẫn từ đầu đến cuối câu chuyện bởi tình tiết, nhân vật, giọng kể và cũng có thể do cả ba nhân tố đố mang lại. Theo nhóm tác giả, việc tiếp cận diễn xướng là cách thức xem xét đối tượng nghiên cứu trong  bối cảnh nó đang diễn ra với những biểu hiện đặc trưng của nghệ thuật diễn xướng, trong không gian, thời gian nhất định. Cách tiếp cận này khả dĩ nhất để nghiên cứu một hiện tượng nghệ thuật biểu diễn dân gian, cụ thể ở đây là diễn xướng sử thi Ê Đê.
Chương 3. Sử thi Ê Đê hiện nay, sử thi sống và sử thi văn bản
Khảo sát sử thi Ê Đê qua các khía cạnh quản lý nhà nước, bối cảnh trình diễn và hình thức hiện tồn. Cụ thể: (i) Sử thi Ê Đê nhìn từ phía cán bộ quản lý văn hóa địa phương; (ii) Sử thi Ê Đê trong cộng đồng; (iii) Sử thi Ê Đê ngoài cộng đồng; (iv) Sử thi Ê Đê dưới hai hình thức hiện tồn cơ bản là sử thi văn bản và sử thi sống. Qua những chuyến khảo sát thực địa, tìm và lựa chọn nghệ nhân cũng như quan sát cuộc sống, bối cảnh của người Tây Nguyên, nhóm nghiên cứu nhận định, đối với “sử thi sống”, nghệ thuật diễn xướng chính là “hơi thở” của nó, chính là biểu hiện sự còn tồn tại trên thực tế của nó. Nghệ thuật diễn xướng là phương thức bộc lộ của sử thi, là lý do mà nhóm tác giả đặt tên “sử thi sống”. Nghệ thuật diễn xướng sử thi luôn gắn liền với nghệ nhân diễn xướng, do đó khi đề cập đến nghệ thuật diễn xướng là gián tiếp đề cập đến vai trò của nghệ nhân diễn xướng đối với sự hiện tồn của sử thi. Nhóm nghiên cứu khẳng định, “sử thi sống” luôn vận động, thay đổi, muôn hình muôn vẻ, được các thế hệ nghệ nhân, thậm chí được các nghệ nhân trong cùng thế hệ bổ sung mỗi khi họ diễn xướng để sử thi hay hơn, hoàn thiện hơn, đáp ứng kịp thời nhu cầu của cộng đồng.
Chương 4. Nghệ thuật ngôn từ trong diễn xướng sử thi Ê Đê
Sử thi thuộc về văn học dân gian, là thể loại tự sự - kể chuyện nên khi bàn về nghệ thuật của sử thi thì trước hết phải xét về nghệ thuật văn học, nghệ thuật ngôn từ. Trong chương này, nhóm tác giả tìm hiểm về nghệ thuật ngôn từ trong diễn xướng, bắt đầu đi từ lời nói vần đến những thủ pháp tạo vần như: (i) Gieo vần ngay trong một câu; (ii) Vần chân câu thứ nhất và vần đầu của câu thứ hai móc nối với nhau; (iii) Vần chân của câu đầu và vần của từ thứ hai của câu sau nối với nhau. Phân tích về ngữ điệu, nhóm tác giả cho rằng đó là một trong những yếu tố quan trọng để phân biệt các nhóm Ê Đê, bởi dân tộc Ê Đê có nhiều nhóm, dù cùng một ngôn ngữ nhưng mỗi nhóm sử dụng ngữ điệu và ngôn từ khác nhau. Điểm đặc biệt của nghệ thuật xử lý ngữ điệu là nghệ nhân thể hiện theo cách kể chuyện để nhập tâm vào vai từng nhân vật, được thể hiện một cách tự nhiên, giọng kể lúc trầm, lúc bổng, khi vui vẻ, khi tức giận…Nhờ tiếp cận trực tiếp, nhóm tác giả nhận thấy trong quá trình diễn xướng sử thi, các nghệ nhân còn sáng tạo thêm những câu, những đoạn cho phù hợp với dân tộc mình với địa phương mình, nhất là phù hợp với phong tục tập quán của cộng đồng mình, từ đó chất giọng diễn xướng của họ cũng trào dâng theo cảm xúc ngẫu hứng.
Chương 5. Công thức nhạc điệu trong diễn xướng sử thi Ê Đê
Tập trung phân tích các biểu hiện của yếu tố âm nhạc trong diễn xướng sử thi mà trọng tâm là xác định công thức sử dụng nó, tức là công thức nhạc điệu. Nhóm tác giả tìm cách phân tích riêng, khác với phân tích giai điệu dân ca thông thường với các bước cụ  thể. Các công thức nhạc điệu bao gồm: (i) Công thức một làn điệu; (ii) Công thức ba cao độ; (iii) Công thức chuyển động từ cao xuống thấp. Trong chương này, người đọc cũng sẽ hiểu rõ hơn tính nghệ thuật trong biểu diễn của sử thi Ê Đê cũng như sự khác nhau và mối quan hệ của nó với hát dân ca.
Chương 6. Nghệ nhân và vấn đề trao truyền sử thi Ê Đê
Nhóm tác giả bàn về tình hình nghệ nhân diễn xướng sử thi Ê Đê hiện nay, cũng như vấn đề trao truyền nghệ thuật diễn xướng sử thi Ê Đê, đồng thời đề xuất một số biện pháp nhằm đưa sử thi Ê Đê trở lại cộng đồng trên quan điểm từ phía các nhà nghiên cứu, các cán bộ văn hóa và người dân địa phương. Tuy nhiên, đối với nhóm nghiên cứu đưa ra một số giải pháp cụ thể sau:
Thứ nhất, khôi phục không gian hát kể truyền thống, cụ thể là diễn xướng trong cộng đồng chứ không phải để biểu diễn trên sân khấu.
Thứ hai, tổ chức sinh hoạt hát kể khan với đối tượng người nghe xác định. Tổ chức kể khan cần phối hợp với Đoàn thanh niên, chính quyền xã, thôn tổ chức định kỳ theo tháng và buổi tối, yêu cầu thanh niên đến nghe.
Thứ ba, đánh giá kết quả rút kinh nghiệm kịp thời nhằm điều chỉnh hợp lý thời lượng, thời gian và kịch mục của một buổi sinh hoạt với mục tiêu cao nhất là thu hút người nghe càng nhiều càng lâu bền càng tốt.
Trên cơ sở những đề xuất này, nhóm tác giả hy vọng việc khôi phục và duy trì dạng thức sử thi sống trong cộng đồng sẽ đạt được hiệu quả thực sự.
Bên cạnh những phân tích, đánh giá chuyên sâu của các nhóm nghiên cứu về sử thi Ê Đê dưới cách tiếp cận mới là nghệ thuật diễn xướng, cuốn sách còn cung cấp cho người đọc những thông tin hữu ích: danh sách những người cung cấp tư liệu thực tế; danh sách những nghệ nhân dân tộc Ê Đê biết truyện cổ, kể khan, xử luật tục, lời cúng huyện Cư M’gar; danh mục 107 tác phẩm sử thi đã xuất bản của Bộ Kho tàng sử thi Tây Nguyên do Nhà xuất bản Khoa học xã hội công bố (2004-2011); một số bản ký âm diễn xướng sử thi cùng một số hình ảnh điền dã của nhóm tác giả. Hy vọng những thông tin này sẽ mang lại ý nghĩa lớn cho những độc giả quan tâm.
Xin trân trọng giới thiệu!
Nguyễn Minh Hồng

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Nghệ nhân tài hoa của nghề đúc đồng xứ Huế

TBV - Sinh ra trong một gia đình có truyền thống nhiều đời đúc đồng ở TP. Huế (Thừa Thiên - Huế), năm 1954 vừa tròn 16 tuổi, Nguyễn Văn Sính phải nghỉ học vì hoàn cảnh gia đình. Từ đó, anh theo bố làm nghề đúc đồng. Bố ông là cụ Nguyễn Đình Toại, một tay đúc đồng nổi tiếng của Huế thời bấy giờ. Cụ từng đúc bộ lư “Tứ Tuần Đại Khánh”cho vua Khải Định, đúc 6 vạn quan tiền cho vua Bảo Đại, được vua Bảo Đại tặng chức tước “Cửu phẩm”. Do ảnh hưởng bởi uy tín nghề nghiệp của bố, lại năng động, ham tìm tòi học hỏi nên ông Sính sớm thành thạo công việc. Năm 1963 ông được bố tin tưởng giao làm chủ cơ sở đúc đồng nổi tiếng của Huế, có tên “Nam công thương cuộc” ở đường Bùi Thị Xuân. Với bản tính điềm đạm, thích học hỏi, biết lắng nghe ý kiến của mọi người nên tên tuổi của ông sớm được nhiều người biết đến.  Năm 1963 ông được Giáo hội Phật giáo tỉnh Thừa Thiên - Huế trợ duyên đúc “Bánh xe pháp luân” bằng đồng không rỉ, đặt ở đài Thánh tử đạo (cạnh cầu Trường Tiền - Huế ). Năm 1973 ở Ni...

Cầu gỗ dài nhất Việt Nam hồi sinh sau lũ: 'Người nhái' lặn sông đóng cọc dựng cầu

  Sau khi bị lũ cuốn trôi, cây cầu gỗ dài nhất Việt Nam ở Đắk Lắk đang dần thành hình. 'Người nhái' lặn sông, đóng cọc gỗ dựng cầu, quyết tâm hoàn thành trước Tết Nguyên đán 2026. Cây  cầu gỗ dài nhất Việt Nam  ở  Đắk Lắk  do người dân góp tiền, góp công xây dựng nhằm rút ngắn thời gian di chuyển từ phường Xuân Đài sang xã Tuy An Đông. Thay vì phải đi vòng hơn 10 km, quãng đường giữa 2 địa phương này chỉ còn khoảng 1 km nhờ cây cầu gỗ Ông Cọp này (thuộc thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên cũ). Cầu gỗ dài nhất Việt Nam đang được người dân dựng lại sau mưa lũ ẢNH: HỮU TÚ Từ nhiều năm qua, cây cầu gỗ Ông Cọp được xem là tuyến giao thông huyết mạch giúp người dân hai bên bờ sông qua lại, giao thương và phục vụ đời sống hằng ngày. Tuy nhiên, trong đợt bão số 13 (bão Kalmaegi), cây cầu bị nước lũ cuốn trôi, chỉ còn trơ lại vài cọc gỗ. Khi di chuyển dọc quốc lộ 1 nhìn về hướng biển,  cây cầu gỗ dài nhất Việt Nam  đang dần nên hình khi người dân địa phương cật lực g...

Phục dựng lại cổng làng Mông Phụ tại bảo tàng nghìn tỷ

  Bảo tàng Hà Nội đang phục dựng lại cổng làng Mông Phụ tại không gian sân vườn.  Ca sĩ Duy Mạnh bị Cục NTBD giám sát sau phát ngôn nhạy cảm Diễm My: Nhan Phúc Vinh sống khép kín không giống như Thanh Sơn Thanh Sơn, Quỳnh Kool lọt đề cử VTV ấn tượng Cổng làng Mông Phụ (Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội) được được GS. KTS Ejima Akiyoshi phục dựng dựa trên cơ sở các số liệu đo đạc rất công phu. Mô hình tại Bảo tàng Hà Nội được làm bằng loại gỗ quý bách hội của Nhật Bản và gỗ ramin (Đông Nam Á) làm cột tròn với kích thước rộng 90, sâu 60, cao 63, bằng tỷ lệ 1/10 so với kích thước thật. Đặc biệt các cấu kiện của mô hình rất chi tiết và có thể tháo ra, lắp vào phục vụ tập huấn tu bổ, giảng dạy.         Cổng làng Mông Phụ thuộc xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội. Trước đó, một phiên bản khác của cổng làng Mông Phụ cũng đã được Bảo tàng Hà Nội phục dựng lại năm 2014 tại không gian sân vườn. Tháng 3/2017, GS. KTS Ejima Akiyoshi đã trao tặng mô hình cổng làng Mông Phụ nà...