Chuyển đến nội dung chính

Những cổ vật quý giá tinh xảo nhất của nhân loại (Phần 2): Khảm nạm sơn kim

Khảm nạm sơn kim chính là sơn và dát vàng lên trên bề mặt đồ vật, sau đó sử dụng các kỹ thuật công nghệ khảm nạm khác nhau. Khảm nạm sơn kim thuộc tám loại cổ vật tuyệt vời nhất thuộc về nước Yên Thời Chu, bao gồm: Hoa khảm, khảm nạm sơn kim, đồ men cảnh thái lam, ngọc bội, chạm khắc ngà voi, sơn khắc, thảm hoàng cung, và thêu thủ công
Tám tuyệt kỹ nghệ thuật thủ công này đã hấp thu hết thảy tinh hoa của nghề thủ công dân gian; đến thời Thanh triều đã lên đến đỉnh cao, cũng dần dần hình thành một trường phái nghệ thuật đặc sắc trong cung đình gọi là “Kinh tác”. Hết thảy đều thiện mỹ, chỉ có thể chiêm ngưỡng, không thể nói lên lời.

Khảm nạm sơn kim

“Khảm nạm sơn kim” là loại hình nghệ thuật thủ công đưa các nguyên vật liệu khác nhau gắn lên bề mặt của một đồ vật bằng gỗ để trang trí cho đồ vật đó . Vật liệu có thể là “kim” là những miếng vàng, bản vàng, lá vàng hay những mảnh vụn của vàng. “Sơn” là chỉ nước sơn thiên nhiên truyền thống. Còn khảm nạm chính là chỉ việc đem các loại ngọc thạch, xương thú, sừng trâu v.v. điêu khắc thành các sự vật, chim hoa, hoa văn, rồi khảm trên bề mặt gỗ đã sơn.
Định nghĩa khảm nạm sơn kim này được đề xướng bởi người truyền thừa tên Bách Đức Nguyên. Đơn giản mà nói, khảm nạm sơn kim chính là sơn và dát vàng lên trên bề mặt đồ vật, sau đó sử dụng các kỹ thuật công nghệ khảm nạm khác nhau. Từ đó thấy rằng, các đồ vật được áp dụng công nghệ này không bị bó hẹp, sẽ có nhiều kiểu dáng với tính thẩm mỹ nổi bật.
Có thể coi đây là một loại hình sơn mài truyền thống Trung Hoa, “khảm nạm sơn kim”, nếu tính từ thời kỳ sơ khai nhất, có thể đã có đến hơn 8.000 năm lịch sử. Nghệ thuật này cụ thể dựa trên bốn kỹ thuật chính, bao gồm: vẽ hoa văn màu, điêu khắc và lấp đầy, khắc khôi, và khảm nạm. Chúng ta sẽ lần lượt đi qua từng kỹ thuật.

Vẽ hoa văn màu

Đúng như tên gọi, đây chính là lấy các loại sơn mài khác nhau và bột phấn vàng hay bạc làm chất màu, tiến hành vẽ trên nền sơn mài. Lược bớt đi những màu sắc sơn khác nhau và bột phấn vàng, tuy cũng gọi là khảm nạm sơn kim, trên thực tế dùng chủ yếu nhất chỉ có vàng. Vàng cũng được chia thành các loại, như: nhũ vàng, thêu hoa văn bằng kim tuyến v.v. Dùng sơn vàng vẽ tỉ mỉ theo những đường viền, tổ hợp trên bề mặt của vật. Sau khi vẽ xong có thể áp dụng sơn mài màu đen để mô tả chi tiết hơn và làm rõ hình ảnh vừa vẽ. Cách làm này khiến cho đồ vật tỏa một khí phách hoàng gia, trông vô cùng tự nhiên.

Điêu khắc và lấp đầy

Thực ra điêu khắc và lấp đầy cũng có thể xem như “thêm hoa” trên hoa văn đã được khảm. Kỹ thuật này sử dụng một con dao để khắc vòng quanh thành đường rãnh trên hình phác thảo của bức tranh, sau đó được lấp bằng những bột phấn vàng, gọi là “thương kim”. Điêu khắc và lấp đầy trong khảm nạm sơn kim không giống với kỹ thuật hoa văn màu bên trên, các hình dạng hoa văn được điêu khắc khi quan sát sẽ thấy những đường nét sống động hơn. Kỹ thuật điêu khắc này rất tinh tế, thậm chí có thể chính xác đến từng kết cấu của lá cây, chim muông hay thú vật, dường như nó có thể khắc các chi gân mạch của vạn vật, cho nên loại điêu khắc này còn được gọi là “xẻ gân”.

Khắc khôi

Khắc khôi là một biến thể của điêu khắc và lấp đầy. Cũng là khắc, nhưng điêu khắc và lấp đầy chỉ khắc đến tầng lớp sơn, khắc khôi là khắc ở tầng sâu nhất có thể của đồ vật. Điêu khắc và lấp đầy chỉ khắc các đường tuyến, khắc khôi là khắc cả mặt (diện). Bởi vì khắc khôi rất sâu nên hoa văn sẽ luôn thấp hơn bề mặt ngoài, tạo hiệu quả giống như khắc gỗ.

Khảm nạm

Cuối cùng là khảm nạm, cực kì dễ hiểu, chính là đem các vật liệu quý giá đã được đánh bóng theo màu sắc và chạm khắc, sau đó lắp ghép vào thành một bức tranh hoàn chỉnh, rồi khảm vào một bộ khung có sẵn. Các khung vỏ bên ngoài cũng làm từ vật liệu tốt, được gọi là “loa điền tương khảm“; nếu bộ khung này được làm từ mã não, ngọc bích, đá núi cao tuổi, hay thanh điền thạch thì được gọi là “bách bảo khảm“.
Khi chế tác khuôn mặt người trong thời cổ đại, các nghệ nhân thường sử dụng ngà voi, nhưng hiện nay họ đã đổi qua dùng xương trâu, vì ngà voi là một nguyên liệu bị cấm buôn bán trao đổi. Có thể thấy rằng trình độ nghệ thuật không liên quan nhiều lắm đến vật liệu, chỉ cần dụng tâm và khéo léo của nghệ nhân. Trong khi khảm vào khung vật liệu, còn có thể khảm thêm một lần nữa thành một khung khác, được gọi là “kiều khảm“, lại là một loại “thêm gấm thêm hoa” cho sản phẩm.

Ứng dụng của khảm nạm sơn kim

Bức bình phong “Hoa quan quần phương” đặt tại đại điện Sướng Âm Các tại Tử Cấm Thành
Tuy công nghệ khảm nạm sơn kim được phân chia thành ngọc thạch khảm nạm, thái thạch khảm nạm, loa điền khảm nạm, bách bảo khảm nạm, nhưng những công nghệ này có thể sử dụng đơn độc, cũng có thể vận dụng kết hợp lại với nhau để thể hiện một nghệ thuật đầy màu sắc.
Có hàng ngàn loại đồ khảm nạm sơn kim, chẳng hạn như xe ngựa, đồ dùng trong nghi lễ, đồ dùng hoàng thất, bình phong bảng hiệu, bàn ghế hay hộp đựng. Tất cả đều thể hiện thần khí của những báu vật, thể hiện bầu không khí vinh hoa tráng lệ trong hoàng thất, đậm hương vị kinh thành.
Khảm nạm sơn kim là kỹ nghệ phức tạp đến cực độ, tinh tế đến cực độ, tạo ra sự tươi sáng với một vẻ đẹp ngoạn mục. Vẻ đẹp phức tạp của khảm nạm sơn kim là khám phá giới hạn trên của sự phức tạp và đẹp đẽ thượng hạng.
Theo sohu.com
Ảnh trong bài: sohu.com

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Nghệ nhân tài hoa của nghề đúc đồng xứ Huế

TBV - Sinh ra trong một gia đình có truyền thống nhiều đời đúc đồng ở TP. Huế (Thừa Thiên - Huế), năm 1954 vừa tròn 16 tuổi, Nguyễn Văn Sính phải nghỉ học vì hoàn cảnh gia đình. Từ đó, anh theo bố làm nghề đúc đồng. Bố ông là cụ Nguyễn Đình Toại, một tay đúc đồng nổi tiếng của Huế thời bấy giờ. Cụ từng đúc bộ lư “Tứ Tuần Đại Khánh”cho vua Khải Định, đúc 6 vạn quan tiền cho vua Bảo Đại, được vua Bảo Đại tặng chức tước “Cửu phẩm”. Do ảnh hưởng bởi uy tín nghề nghiệp của bố, lại năng động, ham tìm tòi học hỏi nên ông Sính sớm thành thạo công việc. Năm 1963 ông được bố tin tưởng giao làm chủ cơ sở đúc đồng nổi tiếng của Huế, có tên “Nam công thương cuộc” ở đường Bùi Thị Xuân. Với bản tính điềm đạm, thích học hỏi, biết lắng nghe ý kiến của mọi người nên tên tuổi của ông sớm được nhiều người biết đến.  Năm 1963 ông được Giáo hội Phật giáo tỉnh Thừa Thiên - Huế trợ duyên đúc “Bánh xe pháp luân” bằng đồng không rỉ, đặt ở đài Thánh tử đạo (cạnh cầu Trường Tiền - Huế ). Năm 1973 ở Ni...

Cầu gỗ dài nhất Việt Nam hồi sinh sau lũ: 'Người nhái' lặn sông đóng cọc dựng cầu

  Sau khi bị lũ cuốn trôi, cây cầu gỗ dài nhất Việt Nam ở Đắk Lắk đang dần thành hình. 'Người nhái' lặn sông, đóng cọc gỗ dựng cầu, quyết tâm hoàn thành trước Tết Nguyên đán 2026. Cây  cầu gỗ dài nhất Việt Nam  ở  Đắk Lắk  do người dân góp tiền, góp công xây dựng nhằm rút ngắn thời gian di chuyển từ phường Xuân Đài sang xã Tuy An Đông. Thay vì phải đi vòng hơn 10 km, quãng đường giữa 2 địa phương này chỉ còn khoảng 1 km nhờ cây cầu gỗ Ông Cọp này (thuộc thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên cũ). Cầu gỗ dài nhất Việt Nam đang được người dân dựng lại sau mưa lũ ẢNH: HỮU TÚ Từ nhiều năm qua, cây cầu gỗ Ông Cọp được xem là tuyến giao thông huyết mạch giúp người dân hai bên bờ sông qua lại, giao thương và phục vụ đời sống hằng ngày. Tuy nhiên, trong đợt bão số 13 (bão Kalmaegi), cây cầu bị nước lũ cuốn trôi, chỉ còn trơ lại vài cọc gỗ. Khi di chuyển dọc quốc lộ 1 nhìn về hướng biển,  cây cầu gỗ dài nhất Việt Nam  đang dần nên hình khi người dân địa phương cật lực g...

Phục dựng lại cổng làng Mông Phụ tại bảo tàng nghìn tỷ

  Bảo tàng Hà Nội đang phục dựng lại cổng làng Mông Phụ tại không gian sân vườn.  Ca sĩ Duy Mạnh bị Cục NTBD giám sát sau phát ngôn nhạy cảm Diễm My: Nhan Phúc Vinh sống khép kín không giống như Thanh Sơn Thanh Sơn, Quỳnh Kool lọt đề cử VTV ấn tượng Cổng làng Mông Phụ (Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội) được được GS. KTS Ejima Akiyoshi phục dựng dựa trên cơ sở các số liệu đo đạc rất công phu. Mô hình tại Bảo tàng Hà Nội được làm bằng loại gỗ quý bách hội của Nhật Bản và gỗ ramin (Đông Nam Á) làm cột tròn với kích thước rộng 90, sâu 60, cao 63, bằng tỷ lệ 1/10 so với kích thước thật. Đặc biệt các cấu kiện của mô hình rất chi tiết và có thể tháo ra, lắp vào phục vụ tập huấn tu bổ, giảng dạy.         Cổng làng Mông Phụ thuộc xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội. Trước đó, một phiên bản khác của cổng làng Mông Phụ cũng đã được Bảo tàng Hà Nội phục dựng lại năm 2014 tại không gian sân vườn. Tháng 3/2017, GS. KTS Ejima Akiyoshi đã trao tặng mô hình cổng làng Mông Phụ nà...